|
Tủ Sách Đàm Đạo Tôn Giáo
Chương:
01
02
03
04
05
06
07
Nội Dung
Lời Mở Đầu
Sách Tham Khảo

Lời Mở Đầu
Mục Đích và Phương Pháp “Đàm Đạo Tôn Giáo”
hay “Hội Nhập Văn Hóa”
Từ sau Đại Công Đồng Vatican II, khoa Thần Học
về các Tôn giáo đã phát triển và nhìn nhận những giá trị tiềm tàng
trong những tôn giáo ngoài-Thiên Chúa Giáo, chẳng hạn như: Phật Giáo,
Khổng Giáo, Lão Giáo, Ấn Độ Giáo... Bản văn chính thức của Công Đồng
có những đoạn như sau:
“Từ xưa đến nay, người ta nhận thấy nơi
nhiều dân tộc khác nhau một cảm nghiệm về một quyền lực ẩn khuất bay
lượn trên dòng chuyển biến của sự vật và trên các biến cố của đời
sống con người. Thật thế, nhiều khi, các dân tộc đã nhìn nhận thấy có
Một Vị Chúa Tể, và một Vị Thượng Phụ nữa. Cảm nghiệm đó và sự nhìn
nhận như thế đã in sâu vào tâm khảm các dân tộc một ý thức sâu xa về
tôn giáo. Những tôn giáo cấu kết với một nền văn hóa cao đã phấn đấu
để trả lời cho những vấn đề trên bằng những ý niệm khá tinh tế và
bằng thứ ngôn ngữ khá điêu luyện, tiến bộ. Bởi vậy, trong Ấn-Độ Giáo,
người ta chiêm niệm mầu nhiệm về thần linh, và biểu lộ ra bằng những
thần thoại và nhờ sự sưu tầm về triết lý. Họ tìm giải thoát số phận
chúng ta khỏi khổ não lo âu, nhờ thực hành nếp sống khắc khổ hay ‘Thiền’,
hoặc chạy đến nương náu nơi Thượng Đế với niềm yêu mến, cậy trông.
Phật Giáo theo nhiều tông phái khác nhau, đều ý thức rằng thế giới vô
thường, hay thay đổi này là một thiếu sót căn bản. Phật Giáo dạy con
người, với một tinh thần tự tín và sùng mộ, có thể tiến tới một trạng
thái hoàn toàn tự do, hoặc là tiến tới đỉnh cao giác ngộ, nhờ tự lực
tự cường hoặc nhờ ơn trên giúp đỡ...”
Giáo Hội Công Giáo không bác bỏ những gì
là chân thực, thánh thiện nơi những tôn giáo đó! Với lòng tôn trọng
chân thành, Giáo Hội nhìn thấy những cách thức hành động và nếp sống,
những luật lệ và giáo thuyết, tuy có nhiều điểm khác biệt với những
chủ trương mà Giáo Hội duy trì, nhưng cũng thường phản ánh lại Chân
Lý chiếu soi cho hết mọi người. Thật vậy, Giáo Hội tuyên bố và phải
công bố luôn mãi Đấng Cứu Thế là “Đường, sự Thật và sự Sống” (Gioan
14:6), trong Ngài nhân loại tìm được sự sung mãn của đời sống tôn
giáo, và trong Ngài Thiên Chúa đã hòa giải mọi sự nơi Ngài (2 Cor
5:18-19)
Vì thế, Giáo Hội khích lệ các con cái
mình: nhìn nhận, bảo trì, và cổ võ cho những thiện ích tinh thần và
luân lý, và những giá trị trong những xã hội và các nền văn hóa của
các tin đồ thuộc các tôn giáo khác, Bằng Đối Thoại và Cộng Tác một
cách khôn ngoan và thân tình với tín đồ của các tôn giáo ấy mà vẫn
làm chứng tá của đức tin và đời sống của KiTô Giáo (Thiên Chúa Giáo)”
(Trích Nostra Aetate, Tuyên ngôn về Liên Lạc của Giáo Hội với các Tôn
Giáo ngoài Kitô Giáo, của Công Đồng Vatican II).
Văn kiện Dignitatis Humanae về Tự Do Tôn
Giáo, được Đức Giáo Hoàng Phaolô VI tuyên bố ngày 7 tháng 12 năm 1965
là văn kiện thuộc Quyền Giáo Huấn (1).
Trước khi bước vào năm 2000, ngày 28
tháng 10, năm 1999, có sự hiên diện của Đức Giáo Hoàng Gioan PhaoLô
II, một Sứ Điệp chung kết của Hội Nghị Thế Giới Các Giáo Hội Và Các
Tôn Giáo, được công bố. Tề tựu tại Nội Thành Vatican, hơn 230 nhân
vật quan trọng đại diện của các tôn giáo lớn và Giáo Hội khác nhau
trên thế giới, trong số này có 72 đại biểu Công Giáo, 27 đại biểu của
các Giáo Hội KiTô khác (Tin Lành, Chính Thống,...), 42 đại biểu của
Hồi Giáo, 23 đại biểu của Phật Giáo, 9 đại biểu của Ấn Giáo, và 14
đại biểu của Do Thái Giáo.
Mục đích của Đại Hội là cầu nguyện, suy
tư về đề tài: “Trước Thềm của Ngàn Năm Thứ Ba, sự cộng tác giữa các
tôn giáo”. Sau đây là một đoạn trích trong hai “Lời kêu gọi”:
1. Yêu cầu tất cả các vị lãnh đạo tôn
giáo lên án việc dùng tôn giáo như phương tiện kích động việc thù
ghét và bạo hành để biện minh cho những kỳ thị các tôn giáo. Hãy cùng
nhau hoạt động để loại trừ tận gốc cảnh nghèo khổ, bằng việc chiến
đấu cùng một lúc cho công bằng kinh tế.
2. Yêu cầu các vị lãnh đạo tôn giáo cổ
võ “tinh thần đối thoại trong chính nội bộ các cộng đồng của các
ngài, và luôn sẵn sàng dấn thân trong việc đối thoại với xã hội trên
mọi cấp bậc”.
Đầu tháng 11, 1999, trong chuyến công du
mục vụ tại Ấn Độ, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, đã công bố Tông
Huấn: Giáo Hội tại Á Châu, trong đó có những điểm quan trọng được tóm
lược như sau:
Giáo hội tỏ lòng cung kính và ngưỡng mộ
tất cả các truyền thống tinh thần này (các tôn giáo Á Châu) và muốn
dấn thân trong cuộc đối thoại chân thành với các tín hữu các đạo giáo.
Những giá trị tôn giáo mà các đạo giáo giảng dạy chờ đón sự viên mãn
trong Đức Giêsu Kitô...
Dân chúng A Châu hãnh diện về truyền
thống tôn giáo và văn hóa của mình, như là: yêu thinh lặng, chiêm
niệm, đơn sơ, hòa hợp, có thể thoát thế, không bạo lực, tinh thần
chăm làm việc, kỉ luật, sống phó thác, khao khát học biết và tìm kiếm
triết lý cho cuộc sống. Người A Châu cũng rất mực tôn trọng sự sống,
từ tâm với mọi sinh vật, sống gần thiên nhiên, hiếu thảo với cha mẹ,
kính trọng người già và thờ kính Tổ Tiên, đặc biệt có ý thức phát
triển cao độ về tình liên đới cộng đoàn. Đặc biệt, người A Châu coi
gia đình là cội nguồn của sức mạnh, gắn bó khăng khít tình nghĩa đồng
bào cộng đồng liên đới. Họ thật có tinh thần độ lượng dung hòa tín
ngưỡng và sống chung hòa bình... (2)
Được khích lệ bởi các văn kiện kể trên,
từ đời Linh Mục Alexandre de Rhodes (1593-1660), và Linh Mục Matteo
Ricci (1552-1610) qua các văn kiện của Công Đồng Vatican II đến Tông
Huấn mới nhất, cuối năm 1999, của Đức Gioan Phaolô II, vì thế, soạn
giả của cuốn sách này dám mạo muội tiếp tục công việc của các vị tiền
bối, đề nghị một đường hướng “Đối Thoại”, gọi là “Đàm Đạo”, để chia
sẻ niềm tin giữa các tôn giáo lớn tại Việt Nam.
Mục Đích là gây tình yêu thương, sự kính
trọng và bổ túc cho nhau trên con đường đi tìm Chân Lý, và góp phần
vào việc tạo sự an vui, đoàn kết để xây dựng một nước Việt Nam hùng
cường về Tinh Thần và vật chất.
Phương Châm, hay Nguyên tắc chỉ đạo trong
việc trình bày các quan niệm, các giáo thuyết, bao gồm hai phương
diện: Một mặt, cố gắng phân tách trình bày một cách chân thực, khách
quan về những sự kiện lịch sử, những điều giáo huấn của vị sáng lập,
của các môn đệ, hoặc các kinh sách lưu truyền, trong mỗi tôn giáo.
Mặt khác, một cách chân thành nêu lên những điểm “Tương Đồng” hay “Dị
Biệt” giữa các tôn giáo, để cùng nhau thảo luận, đàm đạo, thông cảm
tìm hiểu lập trường của nhau, và học hỏi lẫn nhau. Tránh chỉ trích,
chê trách, chế diễu, xuyên tạc, hay tìm cách áp đặt tư tưởng để dành
phần thắng. Hoàn toàn tôn trọng sự Tự Do lựa chọn của Lương Tâm và
Lương Tri của mỗi người.
Phương Pháp bố cục, trình bày sách này
được chia thành bảy chương, cũng là bảy đề mục để đối thoại. Mỗi
chương sẽ lần lượt trình bày Lý thuyết hay quan điểm, lập trường của
từng tôn giáo một, không lẫn lộn, pha trộn với tôn giáo khác. Công
việc nghiên cứu cũng được hạn chế trong phạm vi thần học, siêu hình,
luân lý, tu đức, triết thuyết của Khổng Giáo, Lão Giáo, Phật Giáo,
Thiên Chúa Giáo.
Nội dung của bảy chương là:
Chương Một: Linh Mục Đắc Lộ, vị sáng tác ra
chữ Quốc Ngữ và là một trong những vị đã xây dựng Thiên Chúa Giáo tại
Việt Nam
Chương Hai: Phương Pháp Suy Luận của
Đông Phương và Tây Phương
Chương Ba: Vấn đề Nhân Tính, hay Con Người là
ai?
Chương Bốn: Quan niệm về Cứu Nhân Độ
Thế
Chương Năm: Quan niệm về Tình Ái
Chương Sáu: Nguyên Lý Siêu Việt trong
Nho Giáo, Lão Giáo, và Ý Thức Giải Thoát trong Phật Giáo
Chương Bảy: Ngôi Vị Thiên Chúa , Thượng
Đế và “Ông Trời” trong Tín Ngưỡng dân gian Việt Nam
Bản Toát Yếu sẽ tóm lược lại các ý kiến
vừa trình bày để độc giả không chuyên môn về thần học, triết học, dễ
theo dõi và nắm được các ý tưởng nòng cốt của mỗi tôn giáo hay môn
phái. Sách này nhằm các độc giả là các Hội đoàn, đoàn thể hay các lớp
giáo lý tân tòng... muốn tìm hiểu, so sánh giá trị của các tôn giáo.
Đây cũng là tài liệu (bằng Anh ngữ) dùng để giảng dậy và thảo luận về
môn Triết học Á Đông cho các sinh viên tại St. Joseph College’s
Seminary, Mountain View, California. Do đó, cách diễn giảng các tư
tưởng cần rõ ràng, khúc chiết, dễ hiểu, nếu cần, nên nhắc đi nhắc lại
nhiều lần, lời văn phải gọn gàng, đơn giản, gặp danh từ mới lạ, nên
giải nghĩa, hay ghi thêm ngoại ngữ.
Dung Hòa các quan điểm dị biệt, không có
nghĩa là “ba phải”, “vo tròn”, “thế nào cũng được”, “đạo nào cũng tốt”,
“đạo nào cũng dạy ăn ngay ở lành”, v.v. Nói như vậy thì chẳng cần bàn
luận, hay học hỏi được điều gì mới. Tệ hơn nữa, những thắc mắc, hiểu
lầm, dị nghị vẫn nằm yên trong tiềm thức tị hiềm, chờ cơ hội bùng nổ.
Vì thế, dung hòa có nghĩa “Hòa Nhi Bất Đồng”, không bắt buộc phải từ
bỏ những điều mình tin tưởng, nhưng tôn trọng những ý kiến, lập
trường, tín ngưỡng của người khác. Hơn nữa, thành thật tìm hiểu, so
sánh những lý do, hoàn cảnh, văn hóa, chủng tộc..của những quan niệm
khác biệt, để chia sẻ, học hỏi, để làm phong phú thêm niềm tin riêng
của mình, đồng thời, tìm cách xích lại gần nhau hơn.
Vì thế, thiết nghĩ nên dùng chữ “Đàm Đạo”
(đạo= nói) có vẻ nhẹ nhàng, thanh thản, thông cảm hơn chữ “Đối Thoại”,
có vẻ “chống đối, đối nghịch, tranh cãi”.
Những trang Chú Thích và những sách quan
trọng độc giả dễ tìm kiếm để đọc và Tham Khảo, đặt ở cuối sách.
Trên đây là một cố gắng đi tìm Chân Lý
Vĩnh Cửu với một lòng yêu mến nền văn hóa đạo đức của dân tộc Việt
Nam. Trong khi bước theo con đường của các vị tiền bối, đặc biệt là
cha Đắc Lộ, tìm hiểu những giá trị trường tồn về tôn giáo, luân lý
đạo đức của dân tộc, kẻ hèn này cảm thấy sự hiểu biết còn rất nông
cạn, và thiếu sót, nhất là đối với các giáo thuyết cao siêu của các
tôn giáo. Vậy, nếu có điều sai lỗi trong khi trình bày các đạo lý,
thì xin quí vị cao minh lượng tình thứ lỗi và chỉ giáo cho, để có thể
sửa đổi và bổ túc về sau. Muôn vàn cảm tạ!
Chương:
01
02
03
04
05
06
07
Nội Dung
Lời Mở Đầu
Sách Tham Khảo
|