“Hãy kính trọng người khác”

   Ngô Nhân Dụng

Thursday, April 07, 2005 

 

NGUOI VIET ONLINE   Friday April 8, 2005

Bình Luận

Từ lúc nghe tin Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị qua đời ở Rome, tại Ba Lan mỗi đêm nhiều gia đình thắp nến đặt trên thành cửa sổ. Hàng ngàn ngọn nến, hàng triệu ngọn nến, tỏa ánh sáng leo lét trong đêm, như những giọt nước mắt của hàng triệu đồng bào của vị giáo hoàng sinh ra ở giáo xứ Wadowice, được cha mẹ đặt tên là Karol Wojtyla và đã làm Tổng Giám Mục ở Giáo Phận Krakow, Ba Lan, gần 20 năm.

Lần trước dân Ba Lan tự động thắp nến hàng đêm, cũng gây nên một phong trào như vậy là vào năm 1981. Lúc đó họ muốn bày tỏ một nỗi buồn chung, cái tang lớn của đất nước, sau khi chính phủ cộng sản tuyên bố thiết quân luật và đàn áp phong trào Công Đoàn Đoàn Kết. Lần này, Đức Giáo Hoàng qua đời là một cái tang chung của nhân loại.

Ngày hôm qua, di chúc của Đức Giáo Hoàng được công bố. Bản di chúc viết nhiều lần vào những mùa suy ngẫm trước Lễ Phục Sinh, bắt đầu từ năm 1979. Lúc đó ngài mới 59 tuổi, gần nửa năm sau khi đăng quang. Phần chót của di chúc viết ngày 17 Tháng Ba năm 2000; trong đoạn thứ 5 ngài bày tỏ tình thương yêu và biết ơn đối với các giáo hữu, cả những người thuộc những giáo hội Thiên Chúa Giáo khác, đặc biệt, với cả những người không theo Thiên Chúa Giáo mà ngài đã gặp. Đến đoạn thứ 6 là đoạn sau cùng, Đức Giáo Hoàng viết: “Những ngày cuối cùng của đời tôi đang tới gần khiến tôi trở lại với kỷ niệm những ngày đầu tiên, trở về với cha mẹ tôi, anh tôi, chị tôi (tôi không bao giờ gặp vì chị đã qua đời trước khi tôi sinh ra), nhớ lại giáo xứ Wadowice, nơi tôi được rửa tội, nhớ thành phố mà tôi thương yêu, các bạn bè, từ trường tiểu học, trung học tới đại học, cho tới thời bị (Ðức Quốc Xã) chiếm đóng lúc đó tôi là một công nhân, nhớ tới... nhớ tới tất cả các nơi... tới Krakow và Rome... tới những người mà Chúa đã trao vào tay tôi theo cách riêng của Ngài. Tôi chỉ muốn nói với tất cả một lời này: Xin Chúa thưởng công bội hậu quý vị.”

Những hồi tưởng đầu tiên của Đức Giáo Hoàng là trở về với cha mẹ, gia đình, quê quán, cho ta thấy tấm lòng của ngài không bao giờ rời xa quê hương. Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã lãnh đạo một tỷ tín đồ Giáo Hội Công Giáo La Mã trong hơn một phần tư thế kỷ nhưng ngài sẽ được nhớ tới nhất trong lịch sử loài người vì đã góp công vào việc giải thể chế độ cộng sản ở Âu Châu, giúp hàng trăm triệu người được sống tự do từ 15 năm nay. Và sự nghiệp đó gắn liền với tình yêu quê hương của ngài, mối liên hệ của ngài với con người và xứ sở Ba Lan. Ngài kết hợp với đất nước Ba Lan làm một, nhờ thế tạo mà nên sức mạnh thay đổi thế giới.

Chuyến về thăm quê hương của ngài làm rung chuyển các nước Đông Âu đang sống dưới chế độ cộng sản. Từ thế kỷ 19 đã có những thi sĩ Ba Lan tiên đoán sẽ có ngày một người gốc Tư Lạp Phu (Slave) lên ngôi giáo hoàng. Năm 1979, trước mắt hàng triệu người Ba Lan, những lời tiên tri đó đã thành sự thật, và mang lại thêm cho họ một tinh thần dũng mãnh. Sau Thánh Lễ ở Warszawa, Đức Giáo Hoàng đã cầu nguyện Thượng Đế xin “thay đổi bộ mặt của trái đất, của trái đất này.” Và ngài khuyến cáo dân Ba Lan: “Đừng khiếp sợ!” Lời khuyên đó vang dội khắp nơi, nhất là cho những người đang sống trong nỗi khiếp sợ mà chế độ cộng sản ngoại lai đặt lên với guồng máy công an mật vụ: “Đừng khiếp sợ! Các bạn có thể làm được nhiều hơn nữa! Hãy hành động, dũng cảm và hòa bình!” Và sau đó dân Ba Lan đã hành động. Người ta thường kể chuyện khi Stalin được nghe về ảnh hưởng của vị giáo hoàng ở La Mã, ông đã đặt câu hỏi: “Thế ông Giáo Hoàng có bao nhiêu sư đoàn?” Nếu còn sống, Stalin chắc sẽ thấy câu trả lời, khi chế độ cộng sản sụp đổ.

Nhà văn Ba Lan Henryk Wozniakowski viết: “Các người viết tiểu sử thường nói thiên tài của Stalin là ông có thể nhìn thấy trong các người chung quanh ông những điểm yếu nhất, xấu nhất, hèn hạ và độc ác nhất, rồi tìm cách thao túng những mặt xấu nhất của con người. Thiên tài của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nằm ở cực điểm đối nghịch. Ngài có khả năng khơi dậy trong mỗi con người những đức tính, cái ý muốn làm điều thiện, muốn tìm sự thật, nhiều khi đang bị vùi lấp.” Nhà văn nhìn thấy cuộc nổi dậy của phong trào Đoàn Kết trong những năm 1981, 1982 chính là do tấm lòng muốn được sống trong sự thật và trong công lý, tích lũy trong lòng người Ba Lan từ bao năm, bất chợt bùng lên cùng một lúc trong trái tim mọi người sau chuyến viếng thăm của vị Giáo Hoàng Tư Lạp Phu đầu tiên trong lịch sử.

Một nhà văn Ba Lan khác, Stefan Chwin, kể lại lần đầu tiên ông thấy Đức Giáo Hoàng là năm 1987, ngài cử hành Thánh Lễ ở sân bay cũ thành phố Gdansk, nơi phát xuất phong trào Đoàn Kết. Chế độ cộng sản vẫn còn đó, vững vàng, Công Đoàn Đoàn Kết bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Stefan Chwin trông thấy trong đám người dự lễ, hàng triệu người, những lá cờ mang tên Slodarnos phất lên. Rồi đến quốc kỳ của những nước Tiệp Khắc, Lithuania, Ukraina, những nước cũng sống trong chế độ cộng sản do Nga Xô đặt lên. Những người mang các lá cờ đó chứng tỏ họ “không khiếp sợ!” Sau buổi lễ, giáo dân kéo về phía thành phố, đi qua những hàng xe thiết giáp của công an đứng chờ can thiệp. Nhà văn nhận xét, “Chương trình cải tổ của Công Đoàn Đoàn Kết chắc không xuất hiện được, nếu không có những lời giảng của Đức Giáo Hoàng về vai trò của xã hội công dân.”

Henryk Wozniakowski cho rằng sự giải phóng các sức mạnh quần chúng làm lung lay chế độ cộng sản thực ra không phải là chủ ý của Đức Giáo Hoàng. Ngài không là một nhà chính trị, không muốn làm chính trị. Biến cố đó chỉ là một hậu quả do cá tính con người của Karol Wojtyla tạo ra. Đó là cách ngài nhìn về nhân loại, là con người sinh ra phải có phẩm giá và xứng đáng được yêu thương. Những lời dạy của Đức Giáo Hoàng và sứ mạng ngài theo đuổi là Tình Yêu và Phẩm Giá Con Người. Ông viết: “Di sản Đức Giáo Hoàng để lại cho tất cả mọi người, không cứ người Thiên Chúa Giáo, là: Nếu bạn muốn tự thay đổi và thay đổi thế giới, hãy kính trọng người khác, hãy cố yêu thương họ và bày tỏ niềm tin của bạn bằng hành động.” Ngay sau khi chế độ cộng sản sụp đổ ở quê hương ngài, Đức Giáo Hoàng đã lên tiếng cảnh cáo cả thế giới về mối đe dọa của khuynh hướng duy vật do xã hội tiêu thụ mà kinh tế tư bản tạo ra.

Stefan Chwin cũng nhìn thấy nơi Đức Giáo Hoàng những thái độ và cử chỉ không câu nệ vào nghi lễ, đó là điều lôi cuốn người Ba Lan nhất. “Ngài lôi cuốn họ vì ngài bơi lội, ngài trượt tuyết, hay khi ngài cúi xuống hôn mảnh đất quê hương lúc trở về. Rõ ràng nhất, là họ thấy ngài tỏ ra kính trọng những người khác ở khắp nơi trên trái đất.” Ngay cả một người vô thần như ông Vaclav Havel, Tổng Thống Cộng Hòa Tiệp, cũng có thể chia sẻ nhiều điều chung với Đức Giáo Hoàng. Ngài đã lên tiếng xin lỗi về những nhầm lẫn trong quá khứ, đối với người Do Thái, về các cuộc thập tự chinh, vân vân. Ngài là vị giáo hoàng đầu tiên bước vào một thánh đường Hồi Giáo, Umayyad. Stefan Chwin mô tả Giáo Hoàng Gioan Phaolô II như “Một nhà lãnh đạo tôn giáo mà không dạy lòng thù hận vì tôn giáo, một người không muốn tranh chấp với ai, một người không trừ bỏ ai mà không lắng nghe.”

Mời quý vị đọc và suy ngẫm những nhận xét về Đức Giáo Hoàng Gioan Phao lô II của hai nhà văn xứ Ba Lan, trong ngày tang lễ. Họ nhìn ngài trước hết như một con người, như một con người bình thường luôn luôn vươn tới điều thiện và từ đó khơi dậy được tấm lòng thiện nơi người khác, kể cả những người không cùng tôn giáo. Ngài chứng minh rằng chỉ tấm lòng thiện mới tạo ra được lòng thiện nơi mọi người khác. Được sống cùng thời với những con người đáng yêu đáng kính như vậy, được nhìn ngẫm một tấm gương trước mắt, đó là một điều may mắn cho tất cả chúng ta.

NGÔ NHÂN DỤNG